Những thuận lợi và khó khăn đối với nhà thầu khi tham gia đấu thầu theo văn bản pháp luật mới

Các văn bản pháp luật mới liên quan đến mua sắm trong đầu tư xây dựng

– Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 được Quốc hội khóa XIII ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2013.

– Nghị định số 63/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 26/6/2014 về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu.

– Thông tư số 01/2015/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 14/2/2015 về quy định chi tiết lập Hồ sơ mời quan tâm, Hồ sơ mời thầu, Hồ sơ yêu cầu dịch vụ tư vấn.

– Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 06/5/2015 về quy định chi tiết lập hồ sơ mời thầu xây lắp.

– Thông tư số 05/2015/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 16/6/2015 về quy định chi tiết lập hồ sơ mời thầu mua sắm hàng hoá.

– Thông tư số 10/2015/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 26/10/2015 về quy định chi tiết về kế hoạch lựa chọn nhà thầu.

– Thông tư số 11/2015/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 27/10/2015 về Quy định chi tiết lập hồ sơ yêu cầu đối với chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh.

– Thông tư số 19/2015/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 27/11/2015 về Quy định chi tiết lập báo cáo thẩm định trong quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu.

Những thuận lợi và khó khăn đối với nhà thầu tư vấn, nhà thầu xây lắp khi tham gia đấu thầu theo văn bản pháp luật mới
Những thuận lợi đối với nhà thầu tư vấn, nhà thầu xây lắp khi tham gia đấu thầu theo văn bản pháp luật mới

* Nhà thầu, đặc biệt là nhà thầu là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ được hưởng nhiều ưu đãi hơn khi tham gia đấu thầu (Điều 14 Luật Đấu thầu, Mục 3 Chương I Nghị định số 63):

Luật Đấu thầu năm 2013 đã chú trọng ưu tiên tạo cơ hội cho nhà thầu trong nước trúng thầu, Điều 14 Luật Đấu thầu năm 2013 quy định: nhà thầu được hưởng ưu đãi khi tham gia đấu thầu trong nước hoặc đấu thầu quốc tế để cung cấp hàng hóa mà hàng hóa đó có chi phí sản xuất trong nước chiếm tỷ lệ từ 25% trở lên; khi tham gia đấu thầu trong nước để cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, xây lắp, nhà thầu có từ 25% trở lên số lượng lao động là nữ giới; nhà thầu có từ 25% trở lên số lượng lao động là thương binh, người khuyết tật; nhà thầu là doanh nghiệp nhỏ cũng sẽ được ưu đãi, nhà thầu nước ngoài liên danh với nhà thầu trong nước mà nhà thầu trong nước đảm nhận từ 25% giá trị công việc của gói thầu….

Đặc biệt, theo quy định tại Điều 6, Nghị định 63, đối với gói thầu xây lắp có giá gói thầu không quá 05 tỷ đồng chỉ cho phép nhà thầu là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ  tham gia đấu thầu.

* Có nhiều thời gian hơn trong việc chuẩn bị hồ sơ dự thầu (Điều 12, Luật đấu thầu):

 Thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu tối thiểu là 20 ngày (tăng 05 ngày) đối với đấu thầu trong nước và 40 ngày (tăng 10 ngày) đối với đấu thầu quốc tế, kể từ ngày đầu tiên hồ sơ mời thầu được phát hành đến ngày có thời điểm đóng thầu.

* Được giải tỏa đảm bảo dự thầu sớm hơn (Điều 11, Luật đấu thầu):

Bên mời thầu có trách nhiệm hoàn trả hoặc giải tỏa bảo đảm dự thầu cho nhà thầu, nhà đầu tư không được lựa chọn theo thời hạn quy định trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu nhưng không quá 20 ngày (rút ngắn 10 ngày), kể từ ngày kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư được phê duyệt.

* Đối với dự án, tiết kiệm thời gian cho nhà thầu có kiến nghị, thời gian giải quyết kiến nghị của nhà thầu sẽ nhanh hơn do nhà thầu được gửi kiến nghị trực tiếp lên chủ đầu tư thay vì bên mời thầu (Điều 92, Luật đấu thầu): Nhà thầu được gửi văn bản kiến nghị đến chủ đầu tư đối với dự án; bên mời thầu đối với mua sắm thường xuyên, mua sắm tập trung từ khi xảy ra sự việc đến trước khi có thông báo kết quả lựa chọn nhà thầu.

Ngoài ra, khi thấy quyền và lợi ích của mình bị ảnh hưởng, nhà thầu có thể khởi kiện ra tòa bất kỳ lúc nào. Việc giải quyết kiến nghị (tranh chấp) tại tòa án được xử lý theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

* Về tư cách hợp lệ của nhà thầu (Điều 5, Luật Đấu thầu): Nhà thầu là tổ chức có tư cách hợp lệ khi có đã đăng ký trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, đây là quy định mới nhằm tiến tới việc tổ chức đấu thầu qua mạng, tiết kiệm thời gian, tiền bạc cho nhà thầu tham gia đấu thầu.

* Việc nới hạn mức chào hàng cạnh tranh (Điều 57, Nghị định 63):

“Chào hàng cạnh tranh theo quy trình thông thường áp dụng đối với gói thầu quy định tại Khoản 1 Điều 23 của Luật Đấu thầu có giá trị không quá 05 tỷ đồng.

Chào hàng cạnh tranh theo quy trình rút gọn áp dụng đối với gói thầu quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Luật Đấu thầu có giá trị không quá 500 triệu đồng, gói thầu quy định tại Điểm b và Điểm c Khoản 1 Điều 23 của Luật Đấu thầu có giá trị không quá 01 tỷ đồng, gói thầu đối với mua sắm thường xuyên có giá trị không quá 200 triệu đồng”.

Bên cạnh đó, quy định mới giảm hạn mức chỉ định thầu (Điều 54, Nghị định 63):

“Gói thầu có giá trị trong hạn mức được áp dụng chỉ định thầu theo quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 22 của Luật Đấu thầu bao gồm:

+ Không quá 500 triệu đồng đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, dịch vụ công; không quá 01 tỷ đồng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp, mua thuốc, vật tư y tế, sản phẩm công;

+ Không quá 100 triệu đồng đối với gói thầu thuộc dự toán mua sắm thường xuyên”.

Với quy định mới nới hạn mức chào hàng cạnh tranh và giảm hạn mức chỉ định thầu sẽ góp phần đơn giản thủ tục hành chính, nâng cao tính cạnh tranh trong việc lựa chọn nhà thầu thực hiện các gói thầu thông dụng và đặc biệt là sẽ hạn chế được tối đa việc áp dụng hình thức chỉ định thầu.

Theo đó, khi thực hiện những gói thầu thông dụng, chủ đầu tư, bên mời thầu có thể lựa chọn áp dụng chào hàng cạnh tranh mà không phải thực hiện đấu thầu rộng rãi và quy trình chào hàng cạnh tranh thì thủ tục đơn giản, gọn nhẹ hơn nhiều so với quy trình thực hiện đấu thầu rộng rãi, hơn nữa trong chào hàng cạnh tranh còn cho phép được áp dụng cả hình thức chào hàng cạnh tranh rút gọn thì thủ tục lại càng đơn giản. Vì thế, các thủ tục hành chính trong quá trình tham dự thầu của nhà thầu cũng sẽ được giảm tối đa.

* Tư cách nhà thầu tham dự thầu:

Tại Điều 14 Nghị định số 63 quy định: “Bên mời thầu phải tiếp nhận HSDT của tất cả các nhà thầu nộp HSDT trước thời điểm đóng thầu, kể cả trường hợp nhà thầu tham dự thầu chưa mua hoặc chưa nhận HSMT trực tiếp từ bên mời thầu. Trường hợp chưa mua HSMT thì nhà thầu phải trả cho bên mời thầu một khoản tiền bằng giá bán HSMT trước khi HSDT được tiếp nhận”.

Với quy định này, những nhà thầu chưa mua, chưa kịp mua hồ sơ mời thầu (HSMT) vẫn được nộp HSDT và tham gia đấu thầu bình thường, bình đẳng như các nhà thầu đã mua HSMT trước đó. Đối với những nhà thầu đã mua HSMT, trong quá trình chuẩn bị HSDT, sau khi đọc kỹ HSMT, nếu thấy cần thay đổi tư cách (tên) tham gia đấu thầu so với khi mua HSMT thì không phải thông báo bằng văn bản tới bên mời thầu.

Trước đây, tại Nghị định số 85/2009/NĐ-CP, quy định nhà thầu muốn tham dự thầu thì phải liên hệ với bên mời thầu/chủ đầu tư để mua HSMT, thậm chí là phải làm các thủ tục để đăng ký rồi mới được mua HSMT và trong trường hợp nhà thầu cần thay đổi tên (tư cách) tham gia đấu thầu so với khi mua HSMT thì phải thông báo bằng văn bản tới bên mời thầu.

* Nhà thầu có nhiều cơ hội hơn khi tham gia đấu thầu gói thầu quy mô nhỏ do hạn mức của các gói thầu này được nâng lên (Điều 63, Nghị định 63):

Gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa có giá trị gói thầu không quá 10 tỷ đồng; gói thầu xây lắp, hỗn hợp có giá trị gói thầu không quá 20 tỷ đồng.

* Những thuận lợi của thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT đối với nhà thầu tham gia đấu thầu gói thầu xây lắp so với quy định trước đây:

– Nhà thầu được tham gia vào môi trường đấu thầu công bằng, minh bạch:

Với mục tiêu “đấu thầu để lựa chọn nhà thầu” chứ không phải “đấu thầu để loại bỏ nhà thầu”, trong hai Mẫu HSMT xây lắp ban hành kèm theo Thông tư số 03 có nhiều quy định được xây dựng nhằm lựa chọn được nhà thầu tốt nhất trên các phương diện về năng lực, kinh nghiệm, đề xuất kỹ thuật và giá cả để trao hợp đồng. 

Quy định về “Các sai khác, đặt điều kiện và bỏ sót nội dung”, “Xác định tính đáp ứng của hồ sơ dự thầu” và “Sai sót không nghiêm trọng” tại Chương I – Chỉ dẫn nhà thầu là nội dung mới. Với quy định này, Tổ chuyên gia không thể loại bỏ HSDT đã đáp ứng yêu cầu cơ bản của HSMT. Theo đó, trường hợp HSDT đáp ứng cơ bản yêu cầu của HSMT nhưng vẫn còn một số sai sót, thì các sai sót này sẽ được xem xét, chấp nhận, nếu nó không phải là những sai khác, đặt điều kiện hay bỏ sót nội dung cơ bản trong HSDT. 

Khi lập, thẩm định, phê duyệt HSMT gói thầu xây lắp, tổ chức, cá nhân phải áp dụng mẫu HSMT xây lắp ban hành kèm theo Thông tư này và căn cứ vào quy mô, tính chất của từng gói thầu cụ thể để đưa ra các yêu cầu phù hợp trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế; không được đưa ra các điều kiện nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng; không được chỉnh sửa các quy định nêu trong mẫu HSMT về chỉ dẫn nhà thầu và điều kiện chung của hợp đồng.

– Phần biểu mẫu trong các Mẫu hồ sơ mời thầu (HSMT) cũng được quy định một cách cụ thể, rõ ràng, giúp cho nhà thầu thuận tiện hơn trong quá trình lập HSMT. 

Những khó khăn đối với nhà thầu tư vấn, nhà thầu xây lắp khi tham gia đấu thầu theo văn bản pháp luật mới

* Các văn bản pháp luật mới về đấu thầu đã được cải tiến rất nhiều nhằm tăng cường tính cạnh tranh cao, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế, với mục tiêu là đấu thầu để lựa chọn nhà thầu chứ không đấu thầu để loại bỏ nhà thầu. Điều này sẽ thuận lợi cho nhà thầu có năng lực tốt nhưng lại gây ra khó khăn cho các nhà thầu có năng lực yếu: khả năng thắng thầu ít đi rất nhiều dẫn đến hoạt động đình trệ. Có thể dẫn tới phá sản hàng loạt doanh nghiệp không có năng lực thực sự nếu các doanh nghiệp này không chịu đổi mới.

* Nhà thầu cần đáp ứng nhiều điều kiện hơn so với Luật đấu thầu trước để có được tư cách hợp lệ của nhà thầu (Điều 5, Luật đấu thầu), những điều kiện thêm là:

+ Đã đăng ký trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và phải thường xuyên cập nhật thông tin về năng lực, kinh nghiệm của mình trên hệ thống;

+ Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu theo quy định tại Điều 6 của Luật này;

+ Không đang trong thời gian bị cấm tham dự thầu;

+ Có tên trong danh sách ngắn đối với trường hợp đã lựa chọn được danh sách ngắn.

* Bảo đảm dự thầu:

Theo quy định mới (Điều 11, Luật đấu thầu), nhà thầu xây lắp cần phải có đảm bảo dự thầu đối với cả trường hợp chào hàng cạnh tranh (không quy định trong Luật đấu thầu số 61/2005), nhằm đảm bảo nhà thầu thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng khi trúng thầu, tránh tình trạng rút hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất sau thời điểm đóng thầu.

* Nhà thầu không còn gây sức ép về giá đối với chủ đầu tư:

Luật Đấu thầu mới cũng đã khắc phục căn bản tình trạng trên. Trước đây, Luật Đấu thầu quy định công bố nhà thầu trúng thầu xong mới tiến hành thương thảo hợp đồng. Khi nhà thầu biết chắc mình đã trúng thầu, đã có dự án trong tay, nên không coi trọng, không hợp tác khi thương thảo hợp đồng, thương thảo nhiều mà nhà thầu cũng không giảm giá. Luật mới đã thay đổi hoàn toàn điều này, khi quy định phải thương thảo xong mới công bố trúng thầu, nên sẽ không có chuyện nhà thầu gây sức ép giá ngược trở lại chủ đầu tư, và chỉ khi nhà thầu đưa giá về mức hợp lý mới công bố thắng thầu.

* Nhà thầu không còn dùng được cách chào giá rẻ để thắng thầu:

Đối với phương pháp đánh giá hồ sơ mời thầu, Luật đấu thầu mới quy định, tiêu chuẩn về năng lực, kinh nghiệm, kỹ thuật được xếp trên, trước khi xét đến tiêu chuẩn đánh giá về tài chính. Hơn nữa, Luật quy định áp dụng phổ biến phương thức hai túi hồ sơ trong lựa chọn nhà thầu. Với quy định này, chỉ các nhà thầu được đánh giá là đáp ứng năng lực, kinh nghiệm, yêu cầu kỹ thuật mới được mở và đánh giá về đề xuất tài chính. Các nhà thầu yếu về năng lực, kinh nghiệm sẽ bị loại trước khi mở đề xuất tài chính. Sự đổi mới nói trên sẽ khắc phục tình trạng nhà thầu được lựa chọn do chào giá thấp nhất, nhưng không có năng lực, kinh nghiệm hoặc đề xuất về mặt kỹ thuật không đáp ứng bằng nhà thầu khác.

* Giá mua 01 bộ hồ sơ mời thầu có thể đắt hơn (Điều 9, Nghị định 63):

Mức giá bán một bộ hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu (bao gồm cả thuế) đối với đấu thầu trong nước nhưng tối đa là 2.000.000 đồng đối với hồ sơ mời thầu và 1.000.000 đồng đối với HSYC.

* Những khó khăn của thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT đối với nhà thầu tham gia đấu thầu gói thầu xây lắp so với quy định trước đây:

– Điều 4 của Thông tư số 03 quy định, khi tham dự thầu, nhà thầu phải chịu trách nhiệm tìm hiểu, tính toán và chào đầy đủ các loại thuế, phí, lệ phí (nếu có) trong giá dự thầu theo thuế suất, mức phí, lệ phí theo quy định tại thời điểm 28 ngày trước ngày có thời điểm đóng thầu. Trường hợp hồ sơ dự thầu (HSDT) không đề cập về thuế, phí, lệ phí, thì giá dự thầu của nhà thầu được coi là đã bao gồm đầy đủ các loại thuế, phí, lệ phí; trong trường hợp này, nếu nhà thầu trúng thầu, được trao hợp đồng, thì phải chịu mọi trách nhiệm và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế, phí, lệ phí (nếu có) đối với Nhà nước. Trường hợp trong HSDT, nhà thầu tuyên bố giá dự thầu không bao gồm thuế, phí, lệ phí (nếu có) thì HSDT của nhà thầu sẽ bị loại. 

– Điều 5 của Thông tư số 03 quy định, khi tham dự thầu, nhà thầu phải chào các khoản chi phí dự phòng theo đúng yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Đối với hợp đồng trọn gói, nhà thầu phải tính toán và phân bổ chi phí dự phòng trong giá dự thầu; trong quá trình thực hiện hợp đồng, nhà thầu không được điều chỉnh giá đối với những công việc thuộc phạm vi hợp đồng đã ký kết. Đối với hợp đồng theo đơn giá cố định và hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh, chi phí dự phòng do nhà thầu chào được tách riêng và không xem xét, đánh giá để so sánh, xếp hạng nhà thầu; trường hợp nhà thầu được công nhận trúng thầu, thì giá trúng thầu và giá hợp đồng sẽ bao gồm chi phí dự phòng, chi phí dự phòng do chủ đầu tư quản lý và chỉ được sử dụng khi có phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng theo quy định trong hợp đồng.  

– Yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn đánh giá về năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu được quy định trong các Mẫu HSMT ban hành kèm theo Thông tư số 03. Theo đó, khi tham dự thầu, ngoài năng lực về kỹ thuật, nhà thầu phải chứng minh có đủ năng lực tài chính để thực hiện các hợp đồng dở dang và thực hiện gói thầu đang xét nếu được công nhận trúng thầu. 

– Yêu cầu về doanh thu khắt khe hơn: chỉ xem xét đối với doanh thu trong lĩnh vực xây dựng của nhà thầu thông qua các hợp đồng, hóa đơn thanh toán trước đó mà không xem xét đối với doanh thu trong các lĩnh vực kinh doanh khác của nhà thầu.  

– Yêu cầu về kinh nghiệm chặt chẽ hơn: HSMT yêu cầu nhà thầu phải có kinh nghiệm cụ thể trong quản lý và thực hiện hợp đồng, không còn nội dung yêu cầu về kinh nghiệm chung trong lĩnh vực xây dựng theo như quy định tại Thông tư số 01/2010/TT-BKH, Thông tư số 02/2010/TT-BKH.

Trên đây mình đã trình bày về những thuận lợi và khó khăn đối với nhà thầu tư vấn và nhà thầu xây lắp khi tham gia đấu thầu theo văn bản pháp luật mới.

Cảm ơn bạn đã theo dõi!

 

 Nếu bạn thấy nội dung này có giá trị, hãy mời Quản lý dự án xây dựng chấm Nét một ly cà phê nhé! Buy me a coffee  
Bạn hãy chia sẻ nhé:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.